629129
CASE TRONG THÁNG
Báo cáo trường hợp: u sợi tạo xương ở xương hàm.(18/02/2011)




BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP: U SỢI TẠO XƯƠNG Ở XƯƠNG HÀM

Lê Văn Dũng1, Lê Văn Phước2



Tóm tắt

 
U sợi tạo xương là u lành tính, hiếm gặp; vị trí thường gặp ở xương hàm và xoang hàm. Trong bài báo cáo, chúng tôi giới thiệu lâm sàng, hình ảnh CT, DSA của một trường hợp u sợi tạo xương xảy ra ở xương hàm và xoang hàm, xâm lấn các xoang cạnh mũi và hốc mũi.
Từ khóa: u sợi; tạo xương; xương hàm; chụp cắt lớp vi tính; chụp mạch máu số hóa xóa nền.


Abstract



 OSSIFYING FIBROMA OF THE MANDIBLE: A CASE REPORT

 

            Ossifying fibroma is a rare benign bone tumor that usually affects mandible and maxilla. In this report, we present a case of ossifying fibroma in mandible and maxilla which extended into the right parasinous and nasal cavity on clinical, CT and DSA.


Keywords: fibroma; ossifying; mandible; CT; DSA.


1 Bs.CKI.CDHA BVCR

2Ths.Bs. CDHA BVCR



Đại cương


          U sợi tạo xương là u hiếm gặp, lành tính, gặp ở xương hàm (75%) và xoang hàm (10-20%). Hiếm gặp hơn, u xảy ra ở xương dài, hốc mũi. U thường xâm lấn, lan rộng tại chỗ. Độ tuổi xuất hiện rất thay đổi, thường gặp nhất dưới 10 tuổi. Biểu hiện lâm sàng dưới dạng khối choán chỗ, không đau; chủ yếu liên quan sự chèn ép, xâm lấn của u. Trên hình ảnh X quang, u thường giới hạn rõ, bờ phân múi, bên trong nhiều cấu trúc dạng nang, thấu quang, ngấm vôi không đều. Vỏ xương thường mỏng, biến dạng. Về hình ảnh cần phân biệt nhiều loại bệnh lý khác, đặc biệt bệnh loạn sản sợi.  



Trường hợp lâm sàng



Bệnh nhân H.T.Q.Tr., nữ, 10 tuổi, nhập Bệnh viện Chợ Rẫy ngày 05/01/2011 với lý do lồi mắt và sưng hàm bên phải. Bệnh nhân bị chứng “liệt tiểu cầu” từ nhỏ; phát hiện u và sưng lớn hàm bên phải lúc 4 tuổi; thường chảy máu mũi và chân răng. Khoảng 6 tháng nay, bệnh nhân thấy hàm bên phải sưng nhiều hơn, mắt phải lồi to, khó thở bằng đường mũi. Khám lâm sàng, thấy khối choán chỗ vùng trước xương hàm bên phải, khẩu cái bị đẩy xuống dưới, chân răng di lệch, mặt bên phải sưng to, biến dạng, mũi hếch; mắt phải lồi. Bệnh nhân đã được phẫu thuật lấy u. Kết quả giải phẫu bệnh là u sợi tạo xương (H.8).  

  

Trên CT cho thấy u xương gây phình lớn xương hàm trên bên phải. Kích thước u khoảng # 6,6x6,7x8,1cm. U có đậm độ mô mềm, không đồng nhất, bờ phân múi, có các vùng giảm đậm độ, ngấm vôi dạng đám, viền, cung bên trong; vỏ xương mỏng, nhiều vùng mất liên tục (H.1,2,3,5,6). U bắt quang mạnh, không đều (H.4). Tổn thương xâm lấn xoang hàm, hốc mũi, hố chân bướm hàm, khẩu cái cứng, xoang sàng và sàn hốc mắt bên phải. Hẹp hốc mũi, khoang miệng bên phải, đẩy nhãn cầu ra trước. Ứ dịch tắc nghẽn ở xoang hàm, sàng bên trái và xoang bướm. Hình mạch máu DSA cho thấy nhánh động mạch hàm trên nuôi u; u ngấm thuốc mạnh và giữ thuốc ở thì muộn (H.7).





H.1,2. B.n. H.T.Q.Tr. nữ, 10t. Hình CT, tái tạo VRT, cho thấy sưng vùng hàm-mặt và lồi mắt bên phải, kèm các thay đổi và biến dạng xương hàm-mặt

H.3,-6. Hình CT không và có cản quang, cửa sổ xương: phình lớn xương hàm trên bên phải, có các vùng giảm đậm độ, ngấm vôi dạng viền, cung, đám; bắt quang mạnh, không đồng nhất. Vỏ xương phình lớn, mỏng, nhiều vùng mất liên tục. Tổn thương xâm lấn xoang hàm, hốc mũi, hố chân bướm hàm, khẩu cái cứng, xoang sàng và sàn hốc mắt bên phải.

H.7-8. Hình mạch máu và hình giải phẫu bệnh.


Bàn luận


          Từ “tổn thương lành tính sợi-xương” thường dùng trong bệnh học để mô tả một loạt các bệnh lý từ loạn sản sợi đến u sợi tạo xương, bao gồm cả u sợi tạo men của xương hàm, xoang hàm. Về hình ảnh, u sợi tạo xương cần chẩn đoán phân biệt nhiều bệnh lý: loạn sản sợi, u nguyên bào xương, u sợi không tạo xương, sarcoma xương sarcoma sụn, u nguồn gốc từ răng…U nguyên bào xương thường là tổn thương xương dạng nang với bờ xơ hóa; u sợi không tạo xương điển hình ở xương dài, lệch tâm, hình thấu quang, bờ xơ hóa, nhiều thùy, dạng ‘bọt xà phòng’; u sarcoma thường có khối choán chỗ mô mềm, hủy xương ác tính; tổn thương xương dạng nang nằm trước hoặc ở răng cửa thường gặp ở các u nguồn gốc từ răng. Tuy nhiên, trên hình ảnh, quan trọng cần phân biệt giữa u sợi tạo xương và loạn sản sợi. Trên CT, loạn sản sợi thường có hình ảnh ‘kính mờ’, giới hạn với vùng bình thường không rõ, vùng trung tâm thường đồng nhất hơn so với u sợi tạo xương; ngoài ra, loạn sản sợi thường tiến triển chậm, lành tính hơn so với u sợi tạo xương. Về mặt giải phẫu bệnh, hình ảnh hai loại này có thể giống nhau. Trường hợp phân biệt trên giải phẫu bệnh không rõ, một số tác giả cho rằng, cần xem xét thêm hình ảnh X quang để chẩn đoán phân biệt. Cũng cần lưu ý, không thật sự dễ khi phân biệt giữa hai loại trên nếu chỉ đơn thuần dựa vào hình ảnh học.


CT là kỹ thuật hình ảnh quan trọng trong chẩn đoán phân biệt u sợi tạo xương và các tổn thương sợi-xương khác. CT giúp đánh giá tổn thương về kích thước, hình thái, vị trí, liên quan, xâm lấn, chèn ép và các biến chứng. Khi tổn thương nhỏ, chưa có triệu chứng CT là phương tiện theo dõi tiến triển. Khi tổn thương lớn, có triệu chứng như xâm lấn xoang, hốc mũi gây ra tắc nghẽn các ngách mũi, ứ dịch, viêm xoang, chèn ép nhãn cầu… cần thiết điều trị sớm đặc biệt phẫu thuật; CT là kỹ thuật giá trị trong đánh giá tiền phẫu cũng như theo dõi sau phẫu thuật. DSA có thể được chỉ định trong trường hợp biến chứng xuất huyết, đánh giá mạch máu u, tắc mạch trước phẫu thuật



Kết luận


          U sợi tạo xương là u lành tính, hiếm gặp. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh. Hình ảnh CT và vị trí giải phẫu giúp chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt u sợi tạo xương với các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự, đặc biệt bệnh loạn sản sợi.



Cám ơn


Bs.Trần Minh Thông, Khoa Giải Phẫu Bệnh, L6B1, PET-CT, bv Chợ Rẫy.





Tài liệu tham khảo



1. Bahar Keles, Juvenile ossifying fibroma of the mandible: case report, Journal of oral and maxillofacial research, 2010.

2. Baumann I, Ossifying fibroma of the ethomid involving the orbit and the skull base. Otolaryngol Head Neck Surg 2005.

3. Choi YC, Jeon E, Ossifying fibroma arising in the ethmoid sinus and nasal cavity. Int J Pediatr Otorhinolaryngol 2000.

4. Chong VFH, Maxillary sinus ossifying fibroma, Am J Otlaryngol 1997.

5. Engelbrecht V, CT and MRI of congenital sinonasal ossifying fibroma, Neuroradioloy 1999.

6. Firat Y, A case of frontal lobe abscess as a complication of frontal sinus ossifying fibroma, DMFR, British Institute of Radiology 2006.

7. Rao VM, Sinonasal imaging, Radiol Clin North Am 1998.

Họ tên: *
Địa chỉ Email:
Tiêu đề:
Nội dung: *
Mã xác nhận   Nhập dãy số bên dưới
(Lưu ý: Thông tin có dấu * là thông tin bắt buộc nhập)